Tổng tập văn học Phật Gíao Việt Nam ( bộ 3 tập )

Tổng tập văn học Phật Gíao Việt Nam ( bộ 3 tập )
  • Tổng tập văn học Phật Gíao Việt Nam ( bộ 3 tập )

  • - Tác giả:Lê mạnh Thát
  • - Nhà xuất bản:TPHCM
  • - Số trang:2600
  • - Kích thước:14 x 20.5cm
  • - Năm xuất bản :2001
  • - Hình thức bìa :bìa cứng
  • - Công ty phát hành:H.Q
  • Trọng lượng:

    2.500 g

  • Giá bìa:

    620.000 đ

  • Giá bán:

    558.000 đ

.

 

.

Phật giáo đã tồn tại và gắn liền với dân tộc Việt Nam hơn 20 thế kỷ. Trải quanhững thăng trầm cùng lịch sử đất nước, các Phật tử và thiền sư không ngừng đóng góp cho kho tàng văn hóa Việt Nam một số lượng tư liệu quy mô đồ sộ, trong đó chứa đựng những tinh hoa trí tuệ của cả một dân tộc.

Hiện nay chúng ta chỉ mới phát hiện một phần rất nhỏ số lượng tư liệu vừa nói và mới bước đầu nghiên  cứu và tìm hiểu một số tác giả và tác phẩm hiện đã biết tên, nhưng chưa được thực hiện một cách có hệ thống và nghiêm túc. Màđối với kho tàng tri thức quý báu đó, chúng ta có trách nhiệm phải bảotồn, khai thác và tận dụng một cách triệt để nhằm hổ trợ cho các thế hệhiện tại và tương lai, hiểu rõ thêm nguồn gốc và truyền thống của văn hóadân tộc, nhằm đóng góp và xây dựng cho xã hội hiện đại chúng ta ngày càngphát triển và văn minh hơn.

Vì vậy,để thể hiện nỗ lực và bảo tồn vừa nói, chúng tôi mạnh dạn cho công bố bộTổng tập văn học Phật giáo Việt Nam này. Trước đây cũng từng có một sốcông trình tập hợp các tư liệu Phật giáo. Chẳng hạn là giữa thế kỷ thứXIX, cụ thể là năm 1856, thiền sư An Thiền đã cho ra đời bộ Đại Nam thiểnuyển truyền đăng tập lục (5 quyển) bao gồm Thiền uyển tập anh làm quyểnthượng, Kế đăng lục của Như Sơn làm quyển nhất, quyển tả và quyển hữu, còn quyển hạ do chính An Thiền viết. Đến gần giữa thế kỷ XX, thì Tổng hội Phật giáo Bắc kỳ do các hòa thượng Quang Minh, Thanh Thạnh, Doãn Hài, ThanhTích cùng hợp tác với trường Viễn Đông Bác Cổ để cho ra đời bộ Việt Nam Phật điển tùng san gồm cả thảy 8 quyển, in dập theo các bản in cũ của cáctác phẩm Phật giáo Việt Nam.

Tuy nhiên, bộ Phật điển tùng san này mắc hai khuyết điểm lớn. Thứ nhất, về những văn bản in dập lại, người đứng in đã không tiến hành những nghiên cứu văn bản học đối với các tác phẩm đã in, làm hạn chế độ tin cậy của vănbản được công bố. Khuyết điểm thứ hai là chỉ in dập lại các văn bản cũ bằng chữ Hán hoặc chữ quốc âm, mà vào thời điểm ra đời của bộ Phật điểntùng san, hai loại chữ này đã không còn được phổ biến rộng rãi nữa. Cho nên, nó đã không gây được tác động lớn trong giới học thuật. Thêm vào đó,vì những biến động vào năm 1945, bộ Việt Nam Phật điển tùng san chỉ in tớiquyển thứ 8 thì chấm dứt và sau đó không thấy xuất hiện thêm quyển nào nữa. Ngoài ra, do thuộc loại in dập, sự sắp xếp các tác phẩm in trong bộnày không dựa trên tiêu chuẩn học thuật và thứ tự tổ chức nào cả. Nhữngđiểm này càng làm hạn chế ảnh hưởng học thuật của bộ sách ấy. 

Bộ Tổngtập văn học Phật giáo Việt Nam của chúng tôi ra đời, do thế, sẽ được thựchiện theo một số phương châm sau. Thứ nhất, về mặt tổ chức, chúng tôi sắpxếp các tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam theo niên đại ra đời của cáctác gia, tác phẩm từ khi Phật giáo truyền vào nước ta cho đến thế kỷ XX. 

Thứ hai,về mặt học thuật, bộ Tổng tập này chỉ bao gồm các tác phẩm viết bằng văn tự khối vuông, tức bao gồm các tác phẩm viết bằng chữ Hán và chữ quốc âm.Đối với những tác gia sống trong buổi giao thời của việc chuyển từ văn tự khối vuông qua mẫu tự Latin, nếu tác phẩm chính của họ viết chủ yếu bằng văn tự khối vuông thì cũng sẽ được đưa vào trong bộ Tổng tập này.  

Thứ ba,những tác phẩm in trong Tổng tập đều do các tác gia Việt Nam thực hiện,trừ ba dịch tác gia là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Viên Văn Chuyết Chuyết và Đại SánThạch Liêm. Tỳ Ni Đa Lưu Chi là người Ấn Độ, còn hai vị kia là người TrungQuốc. Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã cùng với người học trò mình là Pháp Hiền thànhlập nên dòng thiền Pháp Vân. Cho nên, vị thiền sư này qua những dịch phẩm của mình như Phật thuyết tượng đầu tinh xá  kinh và Đại thừa phương quảng tổng trì kinh chắc chắn là có những ảnh hưởng lớn đến việc hình thành hệ tư tưởng thiền Pháp Vân. Vì vậy, cả hai dịch phẩm này sẽ được chúng tôiđưa vào phần phụ lục của Tổng tập. Viên Văn Chuyết Chuyết đã sống một thờigian dài và mất tại nước ta, có viết một tác phẩm ngắn là Bồ đề yếu nghĩa,chúng tôi cũng cho in vào đây để tiện việc nghiên cứu tác động tư tưởngcủa Viên Văn đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam và Phật giáo Việt Nam. Còn Đại Sán Thạch Liêm có nhiều tác phẩm hơn và được lưu hành rộng rãi tronggiới học thuật Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là bộ Hải ngoại kỷ sự. Chonên, để cung cấp tư liệu nghiên cứu, chúng tôi cũng cho công bố các tác phẩm của Đại Sán trong bộ Tổng tập này.  

Thứ tư,về tác gia Đại Thừa Đăng, nếu giả thiết của chúng tôi về Đại Thừa Đăng làĐại Thừa Quang được chấp nhận, thì ta sẽ có một loạt các tác phẩm của thếkỷ thứ VII hiện biết dưới tên Đại Thừa Quang. Đó là Câu xá luận ký, Đại thừa bách pháp minh môn luận thuật ký và Duy thức chỉ nguyên. Các tác phẩmnày có thể là do Đại Thừa Đăng viết, nhưng đã lưu hành dưới tên Đại ThừaQuang. Các tác phẩm này chúng tôi cũng sẽ đưa vào phần phụ lục của Tổngtập để làm tư liệu nghiên cứu, trong khi chờ đợi sự thẩm định của giới họcgiả trong và ngoài nước.  

Thứ năm,đối với từng tác giả, chúng tôi cho nghiên cứu niên đại, cuộc đời và sựnghiệp của họ; còn đối với các tác phẩm, chúng tôi cho nghiên cứu tìnhtrạng văn bản, nội dung và niên đại ra đời của chúng. Đồng thời cho phiênâm nếu viết bằng chữ quốc âm, dịch nghĩa nếu viết bằng chữ Hán, ra tiếngViệt quốc ngữ. 

Thứ sáu,về mặt in ấn, ngoài việc cho in bản nghiên cứu, phiên âm hoặc dịch nghĩatừng tác phẩm như vừa nói, chúng tôi đồng thời cho in lại nguyên bản quốcâm hoặc chữ Hán của chúng, nhằm bảo tồn các bản in quý, và để làm tư liệu kiểm soát cho những ai muốn tìm hiểu xa hơn. Những nguyên bản Hán và quốcâm bị thất lạc vào năm 1984, mà chúng tôi đã làm nghiên cứu và phiên âmhay dịch nghĩa, chúng tôi cũng mạnh dạn cho công bố trong bộ Tổng tập,trong khi chờ đợi tìm lại chúng và sẽ bổ sung trong tương  lai, khi có dịp tái bản.  

Dự kiến bộ Tổng tập văn học Phật giáo Việt N

Phậtgiáo đã tồn tại và gắn liền với dân tộc Việt Nam hơn 20 thế kỷ. Trải quanhững thăng trầm cùng lịch sử đất nước, các Phật tử và thiền sư khôngngừng đóng góp cho kho tàng văn hóa Việt Nam một số lượng tư liệu quy môđồ sộ, trong đó chứa đựng những tinh hoa trí tuệ của cả một dân tộc.

Hiện naychúng ta chỉ mới phát hiện một phần rất nhỏ số lượng tư liệu vừa nói vàmới bước đầu nghiên  cứu và tìm hiểu một số tác giả và tác phẩm hiện đãbiết tên, nhưng chưa được thực hiện một cách có hệ thống và nghiêm túc. Màđối với kho tàng tri thức quý báu đó, chúng ta có trách nhiệm phải bảotồn, khai thác và tận dụng một cách triệt để nhằm hổ trợ cho các thế hệhiện tại và tương lai, hiểu rõ thêm nguồn gốc và truyền thống của văn hóadân tộc, nhằm đóng góp và xây dựng cho xã hội hiện đại chúng ta ngày càngphát triển và văn minh hơn.

Vì vậy,để thể hiện nỗ lực và bảo tồn vừa nói, chúng tôi mạnh dạn cho công bố bộTổng tập văn học Phật giáo Việt Nam này. Trước đây cũng từng có một sốcông trình tập hợp các tư liệu Phật giáo. Chẳng hạn là giữa thế kỷ thứXIX, cụ thể là năm 1856, thiền sư An Thiền đã cho ra đời bộ Đại Nam thiểnuyển truyền đăng tập lục (5 quyển) bao gồm Thiền uyển tập anh làm quyểnthượng, Kế đăng lục của Như Sơn làm quyển nhất, quyển tả và quyển hữu, cònquyển hạ do chính An Thiền viết. Đến gần giữa thế kỷ XX, thì Tổng hội Phậtgiáo Bắc kỳ do các hòa thượng Quang Minh, Thanh Thạnh, Doãn Hài, ThanhTích cùng hợp tác với trường Viễn Đông Bác Cổ để cho ra đời bộ Việt NamPhật điển tùng san gồm cả thảy 8 quyển, in dập theo các bản in cũ của cáctác phẩm Phật giáo Việt Nam.

Tuynhiên, bộ Phật điển tùng san này mắc hai khuyết điểm lớn. Thứ nhất, vềnhững văn bản in dập lại, người đứng in đã không tiến hành những nghiêncứu văn bản học đối với các tác phẩm đã in, làm hạn chế độ tin cậy của vănbản được công bố. Khuyết điểm thứ hai là chỉ in dập lại các văn bản cũbằng chữ Hán hoặc chữ quốc âm, mà vào thời điểm ra đời của bộ Phật điểntùng san, hai loại chữ này đã không còn được phổ biến rộng rãi nữa. Chonên, nó đã không gây được tác động lớn trong giới học thuật. Thêm vào đó,vì những biến động vào năm 1945, bộ Việt Nam Phật điển tùng san chỉ in tớiquyển thứ 8 thì chấm dứt và sau đó không thấy xuất hiện thêm quyển nàonữa. Ngoài ra, do thuộc loại in dập, sự sắp xếp các tác phẩm in trong bộnày không dựa trên tiêu chuẩn học thuật và thứ tự tổ chức nào cả. Nhữngđiểm này càng làm hạn chế ảnh hưởng học thuật của bộ sách ấy. 

Bộ Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam của chúng tôi ra đời, do thế, sẽ được thựchiện theo một số phương châm sau. Thứ nhất, về mặt tổ chức, chúng tôi sắp xếp các tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam theo niên đại ra đời của các tác gia, tác phẩm từ khi Phật giáo truyền vào nước ta cho đến thế kỷ XX. 

Thứ hai,về mặt học thuật, bộ Tổng tập này chỉ bao gồm các tác phẩm viết bằng văntự khối vuông, tức bao gồm các tác phẩm viết bằng chữ Hán và chữ quốc âm.Đối với những tác gia sống trong buổi giao thời của việc chuyển từ văn tựkhối vuông qua mẫu tự Latin, nếu tác phẩm chính của họ viết chủ yếu bằngvăn tự khối vuông thì cũng sẽ được đưa vào trong bộ Tổng tập này.  

Thứ ba,những tác phẩm in trong Tổng tập đều do các tác gia Việt Nam thực hiện,trừ ba dịch tác gia là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Viên Văn Chuyết Chuyết và Đại SánThạch Liêm. Tỳ Ni Đa Lưu Chi là người Ấn Độ, còn hai vị kia là người Trung Quốc. Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã cùng với người học trò mình là Pháp Hiền thành lập nên dòng thiền Pháp Vân. Cho nên, vị thiền sư này qua những dịch phẩmcủa mình như Phật thuyết tượng đầu tinh xá  kinh và Đại thừa phương quảng tổng trì kinh chắc chắn là có những ảnh hưởng lớn đến việc hình thành hệtư tưởng thiền Pháp Vân. Vì vậy, cả hai dịch phẩm này sẽ được chúng tôiđưa vào phần phụ lục của Tổng tập. Viên Văn Chuyết Chuyết đã sống một thờigian dài và mất tại nước ta, có viết một tác phẩm ngắn là Bồ đề yếu nghĩa,chúng tôi cũng cho in vào đây để tiện việc nghiên cứu tác động tư tưởngcủa Viên Văn đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam và Phật giáo Việt Nam. Còn Đại Sán Thạch Liêm có nhiều tác phẩm hơn và được lưu hành rộng rãi tronggiới học thuật Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là bộ Hải ngoại kỷ sự. Chonên, để cung cấp tư liệu nghiên cứu, chúng tôi cũng cho công bố các tácphẩm của Đại Sán trong bộ Tổng tập này. 

Phậtgiáo đã tồn tại và gắn liền với dân tộc Việt Nam hơn 20 thế kỷ. Trải quanhững thăng trầm cùng lịch sử đất nước, các Phật tử và thiền sư khôngngừng đóng góp cho kho tàng văn hóa Việt Nam một số lượng tư liệu quy môđồ sộ, trong đó chứa đựng những tinh hoa trí tuệ của cả một dân tộc.

Hiện naychúng ta chỉ mới phát hiện một phần rất nhỏ số lượng tư liệu vừa nói vàmới bước đầu nghiên  cứu và tìm hiểu một số tác giả và tác phẩm hiện đãbiết tên, nhưng chưa được thực hiện một cách có hệ thống và nghiêm túc. Màđối với kho tàng tri thức quý báu đó, chúng ta có trách nhiệm phải bảotồn, khai thác và tận dụng một cách triệt để nhằm hổ trợ cho các thế hệhiện tại và tương lai, hiểu rõ thêm nguồn gốc và truyền thống của văn hóadân tộc, nhằm đóng góp và xây dựng cho xã hội hiện đại chúng ta ngày càngphát triển và văn minh hơn.

Vì vậy,để thể hiện nỗ lực và bảo tồn vừa nói, chúng tôi mạnh dạn cho công bố bộTổng tập văn học Phật giáo Việt Nam này. Trước đây cũng từng có một sốcông trình tập hợp các tư liệu Phật giáo. Chẳng hạn là giữa thế kỷ thứXIX, cụ thể là năm 1856, thiền sư An Thiền đã cho ra đời bộ Đại Nam thiểnuyển truyền đăng tập lục (5 quyển) bao gồm Thiền uyển tập anh làm quyểnthượng, Kế đăng lục của Như Sơn làm quyển nhất, quyển tả và quyển hữu, cònquyển hạ do chính An Thiền viết. Đến gần giữa thế kỷ XX, thì Tổng hội Phậtgiáo Bắc kỳ do các hòa thượng Quang Minh, Thanh Thạnh, Doãn Hài, ThanhTích cùng hợp tác với trường Viễn Đông Bác Cổ để cho ra đời bộ Việt Nam Phật điển tùng san gồm cả thảy 8 quyển, in dập theo các bản in cũ của cáctác phẩm Phật giáo Việt Nam.

Tuynhiên, bộ Phật điển tùng san này mắc hai khuyết điểm lớn. Thứ nhất, vềnhững văn bản in dập lại, người đứng in đã không tiến hành những nghiêncứu văn bản học đối với các tác phẩm đã in, làm hạn chế độ tin cậy của vănbản được công bố. Khuyết điểm thứ hai là chỉ in dập lại các văn bản cũbằng chữ Hán hoặc chữ quốc âm, mà vào thời điểm ra đời của bộ Phật điểntùng san, hai loại chữ này đã không còn được phổ biến rộng rãi nữa. Chonên, nó đã không gây được tác động lớn trong giới học thuật. Thêm vào đó,vì những biến động vào năm 1945, bộ Việt Nam Phật điển tùng san chỉ in tớiquyển thứ 8 thì chấm dứt và sau đó không thấy xuất hiện thêm quyển nàonữa. Ngoài ra, do thuộc loại in dập, sự sắp xếp các tác phẩm in trong bộnày không dựa trên tiêu chuẩn học thuật và thứ tự tổ chức nào cả. Nhữngđiểm này càng làm hạn chế ảnh hưởng học thuật của bộ sách ấy. 

Bộ Tổngtập văn học Phật giáo Việt Nam của chúng tôi ra đời, do thế, sẽ được thựchiện theo một số phương châm sau. Thứ nhất, về mặt tổ chức, chúng tôi sắpxếp các tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam theo niên đại ra đời của cáctác gia, tác phẩm từ khi Phật giáo truyền vào nước ta cho đến thế kỷ XX. 

Thứ hai,về mặt học thuật, bộ Tổng tập này chỉ bao gồm các tác phẩm viết bằng văntự khối vuông, tức bao gồm các tác phẩm viết bằng chữ Hán và chữ quốc âm.Đối với những tác gia sống trong buổi giao thời của việc chuyển từ văn tựkhối vuông qua mẫu tự Latin, nếu tác phẩm chính của họ viết chủ yếu bằngvăn tự khối vuông thì cũng sẽ được đưa vào trong bộ Tổng tập này.  

Thứ ba,những tác phẩm in trong Tổng tập đều do các tác gia Việt Nam thực hiện,trừ ba dịch tác gia là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Viên Văn Chuyết Chuyết và Đại SánThạch Liêm. Tỳ Ni Đa Lưu Chi là người Ấn Độ, còn hai vị kia là người TrungQuốc. Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã cùng với người học trò mình là Pháp Hiền thànhlập nên dòng thiền Pháp Vân. Cho nên, vị thiền sư này qua những dịch phẩmcủa mình như Phật thuyết tượng đầu tinh xá  kinh và Đại thừa phương quảngtổng trì kinh chắc chắn là có những ảnh hưởng lớn đến việc hình thành hệtư tưởng thiền Pháp Vân. Vì vậy, cả hai dịch phẩm này sẽ được chúng tôiđưa vào phần phụ lục của Tổng tập. Viên Văn Chuyết Chuyết đã sống một thờigian dài và mất tại nước ta, có viết một tác phẩm ngắn là Bồ đề yếu nghĩa,chúng tôi cũng cho in vào đây để tiện việc nghiên cứu tác động tư tưởngcủa Viên Văn đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam và Phật giáo Việt Nam. CònĐại Sán Thạch Liêm có nhiều tác phẩm hơn và được lưu hành rộng rãi tronggiới học thuật Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là bộ Hải ngoại kỷ sự. Chonên, để cung cấp tư liệu nghiên cứu, chúng tôi cũng cho công bố các tácphẩm của Đại Sán trong bộ Tổng tập này.  

Thứ tư,về tác gia Đại Thừa Đăng, nếu giả thiết của chúng tôi về Đại Thừa Đăng làĐại Thừa Quang được chấp nhận, thì ta sẽ có một loạt các tác phẩm của thếkỷ thứ VII hiện biết dưới tên Đại Thừa Quang. Đó là Câu xá luận ký, Đạithừa bách pháp minh môn luận thuật ký và Duy thức chỉ nguyên. Các tác phẩmnày có thể là do Đại Thừa Đăng viết, nhưng đã lưu hành dưới tên Đại ThừaQuang. Các tác phẩm này chúng tôi cũng sẽ đưa vào phần phụ lục của Tổngtập để làm tư liệu nghiên cứu, trong khi chờ đợi sự thẩm định của giới họcgiả trong và ngoài nước.  

Thứ năm,đối với từng tác giả, chúng tôi cho nghiên cứu niên đại, cuộc đời và sựnghiệp của họ; còn đối với các tác phẩm, chúng tôi cho nghiên cứu tìnhtrạng văn bản, nội dung và niên đại ra đời của chúng. Đồng thời cho phiênâm nếu viết bằng chữ quốc âm, dịch nghĩa nếu viết bằng chữ Hán, ra tiếngViệt quốc ngữ. 

Thứ sáu,về mặt in ấn, ngoài việc cho in bản nghiên cứu, phiên âm hoặc dịch nghĩatừng tác phẩm như vừa nói, chúng tôi đồng thời cho in lại nguyên bản quốcâm hoặc chữ Hán của chúng, nhằm bảo tồn các bản in quý, và để làm tư liệukiểm soát cho những ai muốn tìm hiểu xa hơn. Những nguyên bản Hán và quốcâm bị thất lạc vào năm 1984, mà chúng tôi đã làm nghiên cứu và phiên âmhay dịch nghĩa, chúng tôi cũng mạnh dạn cho công bố trong bộ Tổng tập,trong khi chờ đợi tìm lại chúng và sẽ bổ sung trong tương  lai, khi có dịptái bản.  

Dự kiếnbộ Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam sẽ giới thiệu trên dưới 40 tác giacủa Phật giáo Việt Nam, bắt đầu với Mâu Tử (160-220?) cho đến tác gia cuốicùng có tác phẩm viết bằng chữ Hán là thiền sư Chân Đạo Chính Thống(1900-1968). Trong số những tác gia này, họ chủ yếu là các thiền sư. Chỉtrừ ba tác gia đời Trần là Trần Thái Tông, Tuệ Trung Trần Quốc Tung vàTrần Nhân Tông, một tác gia đời Lê là Lê Thánh Tông, một tác gia đời TâySơn là Ngô Thời Nhiệm và một tác gia thời Nguyễn là Nguyễn Du. Các tác gianày ngoài Phật giáo ra còn viết về nhiều đề tài khác nhau, song tự bảnthân họ đã xác nhận mình là thiền sư như Trần Nhân Tông hay Ngô ThờiNhiệm, hoặc tự nhận mình có gắn bó chặt chẽ với Phật giáo qua thơ văn nhưLê Thánh Tông và Nguyễn Du. Chúng tôi do thế đã đưa các tác gia này vàotrong bộ Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam. Ngoài ra, một số tác gia khác có viết về đề tài liên quan đến Phật giáo Việt nam, và họ có thể lànhững Phật tử. Nhưng chúng tôi cũng chưa đưa vào trong bộ Tổng tập này, vìnhững tác phẩm ấy chưa chiếm ưu thế trong số lượng tác phẩm của họ. Chẳnghạn, Đặng Xuân Bản có viết Không Lộ đại thánh sự tích,  song vẫn chưa đượcđưa vào trong Tổng tập này do việc nó không chiếm ưu thế trong toàn bộ tácphẩm của ông.

Thứ tư,về tác gia Đại Thừa Đăng, nếu giả thiết của chúng tôi về Đại Thừa Đăng làĐại Thừa Quang được chấp nhận, thì ta sẽ có một loạt các tác phẩm của thếkỷ thứ VII hiện biết dưới tên Đại Thừa Quang. Đó là Câu xá luận ký, Đạithừa bách pháp minh môn luận thuật ký và Duy thức chỉ nguyên. Các tác phẩmnày có thể là do Đại Thừa Đăng viết, nhưng đã lưu hành dưới tên Đại ThừaQuang. Các tác phẩm này chúng tôi cũng sẽ đưa vào phần phụ lục của Tổngtập để làm tư liệu nghiên cứu, trong khi chờ đợi sự thẩm định của giới họcgiả trong và ngoài nước.  

Thứ năm,đối với từng tác giả, chúng tôi cho nghiên cứu niên đại, cuộc đời và sựnghiệp của họ; còn đối với các tác phẩm, chúng tôi cho nghiên cứu tìnhtrạng văn bản, nội dung và niên đại ra đời của chúng. Đồng thời cho phiênâm nếu viết bằng chữ quốc âm, dịch nghĩa nếu viết bằng chữ Hán, ra tiếngViệt quốc ngữ. 


 

Danh sách sách

Nhận bản tin

Liên kết website