Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam bộ

Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam bộ
  • Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam bộ

  • - Tác giả:Huỳnh Công Tín
  • - Nhà xuất bản:Văn hóa - Văn nghệ
  • - Số trang:432
  • - Kích thước:14x20cm
  • - Năm xuất bản :2020
  • - Hình thức bìa :bìa mềm
  • - Công ty phát hành:NXB
  • Trọng lượng:

    500 g

  • Giá bìa:

    99.000 đ

  • Giá bán:

    89.000 đ

.

.

Giải nghĩa:

Chắc Cà Đao

Sao gọi là Chắc Cà Đao?

Địa danh này được lý giải ra sao?

Chắc Cà Đao là tên xứ, rạch, vàm, chợ, hiện thuộc thị trấn An Châu, Châu Thành, tỉnh An Giang. Tên này được nhắc tới trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, 1806, của Lê Quang Định và được ghi trên tấm bản đồ An Nam đại quốc họa đồ trong quyển Dictionarium Anamitico Latinum, 1838, của J. L. Taberd. Hiện có hai ý kiến giải thích về tên gọi này: 1. “Chắc Cà Đao” là từ Khmer “Prek Pedao”, có nghĩa: “Rạch có mây rừng”. 2. “Chắc Cà Đao” do tiếng Khmer “Cháp Kdam” có nghĩa: “Bắt cua, vì vùng này xưa kia có nhiều cua”.

Xét hai ý kiến giải thích có thể thấy rằng, ý kiến 1 thì gần gũi với lối định danh của người Nam bộ; ý kiến 2 thì sự chuyển âm giữa âm ban đầu và âm tiếp sau có phần gần gũi hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp vùng này có nhiều cua, thì lối định danh hợp lý hơn sẽ là rạch cua, chớ không phải là “bắt cua”. Vì trong việc định danh, người ta thường cấu trúc từ hai thành tố. Trong đó, thành tố đầu thường là danh từ hoặc số từ, thành tố sau có thể là một danh từ, tính từ hoặc động từ… Vì thế, giải thích nguồn gốc địa danh theo ý kiến 1 có thể dễ được chấp nhận hơn. Mặt khác, trong cảm nhận nghĩa khái quát thì địa danh “Chắc Cà Đao” được hiểu là: “một nơi nào đó xa xôi, hẻo lánh, quê mùa” nên rạch có nhiều mây rừng thì phù hợp. Trong ca dao An Giang có câu: “Anh về xứ Chắc Cà Đao. Bỏ em ở lại như dao cắt lòng.”.


Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam bộ

Ấn phẩm Chuyện địa danh và chữ nghĩa Nam bộ được in đợt này gồm hai phần: Phần Chuyện địa danh mới được in; phần Chuyện chữ nghĩa đã được Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh phát hành vào quý III/ 2014, nay được in lại với Chuyện địa danh nên có sửa chữa và bổ sung thêm một số mục từ. Tất cả những mục từ của hai phần được viết trong khuôn khổ lượng từ được ấn định khoảng 400 chữ dưới dạng một câu hỏi và một phần trả lời, được đăng định kỳ hằng tuần ở một số báo tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Các mục từ này có thể gặp trong Từ điển Từ ngữ Nam bộ đã được xuất bản bởi Nhà xuất bản Khoa học xã hội (2007) và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật (2009) (lần in sau có sửa chữa, bổ sung mục từ với dung lượng thêm khoảng 100 trang). Tuy vậy, các mục từ trong Từ điển thường được chú ý giải thích ngắn ngọn, vừa đủ những thông tin cơ bản để hiểu mục từ, mà không mở rộng nội dung thông tin như ở các mục chuyện trong tập sách này.

Về phần Chuyện chữ nghĩa, các mục từ được chọn thường ít được sử dụng trong giao tiếp hiện nay, như: “ăn đầu thảo, ăn công ký, ăn ngan, ăn ong, dặm hú, đường thét, giầm đốc, quá mùa hò, thằng xà bát…”; hoặc nghĩa của các mục từ gắn liền với những sự kiện, con người trong lịch sử mà muốn hiểu chúng phải có sự dẫn giải thêm, như: “Bạch công tử, Hắc công tử, bá hộ, thiên hộ, dân ngũ Quảng, dân hai huyện, giấy bộ lư, lưu linh miễn tử, xổ nho, xài giấy năm trăm…”; hay những từ ngữ có những nét nghĩa cổ và nét nghĩa địa phương có thể tạo nên sự hiểu nhầm, ngộ nhận, như: “ngựa trớ đường, thị thiềng, thị quá, ghe đục, loạn cào cào, phân đồng, phần thủ, phần do…”. Tất cả không thể đủ như một quyển từ điển, nhưng với phần Chuyện chữ nghĩađược giới thiệu ở đây giúp người đọc hình dung được một số nét đặc thù về tự nhiên, xã hội, con người vùng đồng bằng Nam bộ.

Từ phương diện tự nhiên, đây là vùng đồng bằng ruộng vườn gắn với địa hình kênh rạch, sông nước và phương tiện đi lại xuồng, ghe… Từ phương diện xã hội, đây là vùng đất mới có khả năng thu hút những cư dân phương xa đến lập làng, định cư, khai phá, làm ăn. Từ phương diện con người, đa phần là nông dân kinh qua thực tiễn lao động, ít có điều kiện tiếp xúc tri thức sách vở nên chuộng nếp sinh hoạt bình dị, với tính cách bình dân và lời ăn tiếng nói mộc mạc. Bức tranh quê ngày ấy gợi trong chúng ta một vẻ đẹp hiền hòa!

Danh sách sách

Nhận bản tin

Liên kết website